Kết cấu tối ưu - Công trình bền vững 
Optimized structure - Stable building

 

“Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - Cái đó là Văn hóa"
 Những giá trị văn hoá được gây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của ALPHA Group, đã trở thành các quan niệm, tập quán truyền thống, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của Doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích của ALPHA Group sẽ tạo nên Văn hoá Doanh nghiệp.
Một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong ALPHA Group chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó sẽ được coi là sản phẩm của những người cùng làm việc trong Doanh nghiệp. Nó góp phần tạo nên sự khác biệt giữa ALPHA và các Doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng ALPHA, đó cũng chính là Văn hoá Doanh nghiệp.
ALPHA Group tin tưởng rằng, mục đích " Vì Người lao động - Vì Khách hàng - Vì Trách nhiệm với Đất nước" chính là những đặc trưng của Văn hoá Doanh nghiệp trong ALPHA Group.

Trang thông tin điện tử VH doanh nhân www.vhdn.vn/
 
Tìm hiểu nét đẹp văn hóa kinh doanh
 
 
 
I. Văn hoá kinh doanh sẽ là một cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp vượt qua những sóng gió hiện nay.


Nhận định này được nhiều học giả, nhà nghiên cứu về văn hoá, kinh tế...  cùng thống nhất tại hội thảo “Xây dựng văn hoá doanh nghiệp thời kỳ hội nhập” do Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam và Thời báo Kinh tế Việt Nam đồng tổ chức hôm nay 22/2, tại Học viện Phật giáo Trung ương ở Sóc Sơn, Hà Nội.

Theo nhìn nhận của GS. Đào Nguyên Cát, Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam, bên cạnh các yếu tố vật chất như tài nguyên thiên nhiên, người lao động..., văn hoá kinh doanh là yếu tố cơ bản, lâu bền góp vào sự thành công của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Chia sẻ với ý kiến trên, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nói không ít doanh nghiệp của Việt Nam hiện vẫn kém hiểu biết về tâm lý, thói quen tiêu dùng...  của khách hàng mà mình hướng tới. Ông cho rằng đây chính là sự thua kém về văn hoá kinh doanh. Thiếu yếu tố này, doanh nghiệp sẽ không thể thắng lợi trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài thời kỳ hội nhập.

"Kinh doanh có văn hóa là lối kinh doanh có mục đích và theo phương thức đạt tới cái lợi, cái thiện và cái đẹp. Kinh doanh vô văn hóa là lối kinh doanh sẵn sàng chà đạp lên mọi giá trị, không từ bất cứ thủ đoạn bỉ ổi nào, miễn là kiếm được càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Để đạt được lợi nhuận ngày càng cao, họ sẵn sàng cho ra đời những hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, những hàng có chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, thậm chí sức khỏe của trẻ em. Họ chà đạp lên chuẩn mực văn hóa trong kinh doanh, họ thiếu hẳn chữ “ tâm” trong kinh doanh", nguyên Tổng bí thư nhấn mạnh.

Cho rằng để phát triển bền vững, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một bản sắc văn hóa riêng, PGS.TS Đào Duy Quát - Tổng biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam - nhìn nhận chủ doanh nghiệp sẽ có vai trò quyết định trong xây dựng văn hoá doanh nghiệp, bởi theo ông, họ là người trực tiếp điều hành, đồng thời là tấm gương văn hoá để mọi thành viên trong doanh nghiệp noi theo.

Cùng "bắt mạch" vấn đề văn hóa doanh nghiệp, theo Đại đức Thích Trí Chơn, khi một người bị ô nhiễm tâm thức, người đó có thể làm hại bản thân mình, hại gia đình mình. Nếu người đó có vị trí trong hệ thống chính trị hay trong kinh tế, kinh doanh thì có thể làm hại cả cộng đồng và làm hại xã hội.

"Doanh nhân làm việc với tâm trong sáng, lợi mình lợi người, thấy được cái chân cái giả, thấy được những qui luật, những chuyển biến cuộc đời và ứng dụng cái thấy vào cuộc sống thường nhật thì doanh nhân sẽ có nhiều niềm vui dù công việc có thăng có trầm.
 



Ngược lại, hiệu quả công việc rất tốt, sự nghiệp thành đạt nhưng nếu doanh nhân không tìm được những phút giây an bình nội tại, không thấy được bản chất cuộc đời, lấy giả làm chân, lấy phương tiện làm cứu cánh thì doanh nhân vẫn là những người nghèo khổ nhất cuộc đời: nghèo tình thương, nghèo hạnh phúc, nghèo an lạc…", Đại đức nói thiết tha.

Trong khi đó, theo TS. Nguyễn Tường Bách, những nhà kinh doanh “có tâm” sẽ biết thiết lập sự quân bình trong quan hệ chủ/thợ, hài hòa trong sự tập trung tài sản và quyền lực, quân bình trong đời sống chung/riêng. Những nhà kinh doanh “có tầm” sẽ biết rằng mọi thành công, tiền bạc, tài sản...là sự vật chất hóa của khả năng của mình, của phước báu cha ông, của nhiều tích lũy từ đời kiếp nào xa xưa, của nhiều năng lực vô hình khác mà mình không hề ý thức đến. 

"Tất cả đều nằm trong kho báu của pháp giới, ai xứng đáng sẽ được hưởng lợi ích lâu dài, ai không xứng đáng sẽ sớm bị mất đi. Nhà kinh doanh minh triết biết rằng tất cả của cải và địa vị đều do “trời đất” tạm ứng cho, mình chỉ là người quản lý hộ để thực hiện một sứ mạng nào đó trong đời", ông nói.
(Trung Hiếu sưu tầm)
 
II. Văn hóa kinh doanh trong môi trường quốc tế
 
 
 
Việc kinh doanh bên ngoài ranh giới địa lý của một quốc gia đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải nắm bắt những quy định, nguyên tắc và cả nét văn hóa đặc trưng của quốc gia đó. Điều này giúp doanh nghiệp có được những bước đi và chiến lược đúng đắn.
Xây dựng kế hoạch kinh doanh, đánh giá nhu cầu mục đích kinh doanh, nhận giấy phép, chọn địa thế, thiết lập bộ máy kỹ thuật và xác định đối tượng khách hàng…đó đều những dấu sao lớn thu hút sự chú ý của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, một dấu sao không thể không nhắc tới và càng không thể bỏ qua chính là những yếu tố về văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia. Chuyên gia nghề nghiệp Jessie nói: “Một kế hoạch kinh doanh “xuyên quốc gia” hoàn hảo cần được xây dựng trên những nấc thang văn hóa. Nếu chủ doanh nghiệp bỏ lơ yếu tố quan trọng này, rất có thể doanh nghiệp đó sẽ phải đối mặt với từ thất bại trên “đất khách quê người”.
Quan tâm đến vai trò của chính phủ
Đây là một yếu tố quan trọng nhưng thường hay bị bỏ qua. Lý do là ở Mỹ, các doanh nghiệp thường mong đợi chính phủ can thiệp vào các hoạt động tư nhân của họ. Nói chung ở các nước đang phát triển chính phủ đóng vai trò quan trọng giúp doanh nghiệp đối phó với bộ máy quan liêu. Trong thực tế, ngay cả đối với những nước công nghiệp thì chính phủ và doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Ví dụ, ở Pháp các quan chức chính phủ nghỉ hưu thường chiếm vị trí trách nhiệm quan trọng trong một công ty tư nhân nào đó và trường hợp này cũng phổ biến ở các nước Nam Mỹ.
Văn hóa hội họp
Thời gian các cuộc họp kinh doanh nói chung ở các nước Châu Á và Nam Mỹ thường kéo dài trong khi ở Mỹ các cuộc họp thường diễn ra ngắn và luôn đề cao sự đúng giờ. Hầu hết các quyết định kinh doanh ở các nước Châu Á và Nam Mỹ được đưa ra sau khi thảo luận. Tại Nhật Bản, thị trường khó tính thứ hai thế giới thì đạo đức kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu. Đúng giờ, đúng giờ và đúng giờ là điệp khúc cần được lưu trong bộ nhớ nếu bạn có ý định đầu từ vào đất nước hoa anh đào và quốc gia “xúc xích” Đức. Các kế hoạch ngắn hạn luôn là sự lựa chọn của các công ty Nam Mỹ.
Truyền thông
Nếu như ở Đức và Pháp ưu tiên giao tiếp bằng văn bản thì ở Argentina và Brazil lại lựa chọn giao tiếp bằng lời nói. Pháp đặt tầm quan trọng của truyền thông thông qua việc sử dụng đúng ngữ pháp trong khi Đức lại hy vọng các thông tin liên lạc kinh doanh được chính xác. Sự hài hước thường được sử dụng trong giao tiếp văn phòng ở Mỹ và Australia, không giống như Đức, Nhật Bản và Trung Quốc. Quá khiêm tốn không phải là cách làm được đánh giá cao tại Mỹ nhưng điều này lại trái ngược đối với các nước Châu Âu. Họ yêu sự khiêm tốn và đề cao những doanh nghiệp “biết mình biết ta”, không khoa trương thanh thế và tự mãn với bản thân. Nếu muốn thành công ở Anh thì giao tiếp là chìa khóa giúp bạn đưa doanh nghiệp lên đỉnh cao.
Thâm niên, nhân tài và việc ra quyết định
Các nước Châu Á luôn đề cao thâm niên của doanh nghiệp trong khi Mỹ, Úc và Đức lại đề cao những doanh nghiệp trưng dụng được nhiều nhân tài. Tại Pháp, một sự kết hợp giữa thâm niên và nhân tài là sự lựa chọn hàng đầu. Việc ra quyết định đối với các nước ở Nam Mỹ không phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ trì cấp cao mà thuộc về một tổ chức, một hội đồng thẩm định.
Quà tặng và ủng hộ cá nhân
Quà tặng và việc ủng hộ cá nhân là phổ biến ở các nước Châu Âu và Nam Mỹ nhưng lại khó vận dụng ở Mỹ - nơi có những nguyên tắc nghiêm ngặt về trao đổi trong một tổ chức. Bởi lẽ, người Mỹ cảm thấy rằng quà tặng và ủng hộ cá nhân sẽ ảnh hưởng đến sự công bằng của mỗi quyết đinh. Điều này sẽ tạo ra sự bất công, sự khuất tất và đôi khi là dẫn đến cả những sai lầm.
Hiểu biết về sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia và thực thi theo chính sách “ở đâu âu đấy” sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh chóng với môi trường mới và từng bước đến gần với thành công. Thay vì chú trọng quá nhiều đến nội dung kinh doanh, hãy dành thời gian nghiên cứu những đặc trưng về văn hóa. Bởi, mỗi quốc gia đều có những đặc điểm riêng, khác biệt. Vì vậy, thay đổi theo từng môi trường và làm quen dần với từng nền văn hóa sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những sai lầm không đáng có và chiếm được cảm tình của các đối tác một cách dễ dàng và tự nhiên.
                                                                                                      Thảo My
 (Theo Buzzle)
 
III. Văn hóa kinh doanh Nhật Bản
 

 
Trong không gian kinh tế tri thức yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Văn hóa làm cho yếu tố đó trở thành có chất lượng, liên kết và nhân lên siêu cấp các giá trị riêng lẻ của mỗi người và trở thành nguồn lực vô tận của mỗi quốc gia. Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của họ
1. Những nguyên nhân chính làm nên sự  đặc thù của VHDN Nhật Bản
Sự phân thứ bậc mang tính "đẳng cấp": Đạo Khổng du nhập vào Nhật Bản từ rất sớm, kết hợp với tinh thần tôn vinh giới Võ Sĩ Đạo như là một đẳng cấp hàng đầu: Võ sĩ - Trí thức - Công Nông - Thương nhân, đã làm nên một xã hội đẳng cấp kiểu Nhật Bản với tư tưởng đề cao Lễ - Tín - Nghĩa - Trí - Nhân. Cho đến nay có nhiều thay đổi, nhưng tinh thần đó vẫn biểu hiện rất mạnh trong các mối quan hệ xã hội  và các tổ chức của Nhật Bản thể hiện: - Tôn ti trật tự " Công ty mẹ và con ". Hội sở và chi nhánh - Quan hệ cấp trên cấp dưới " Lớp trước và lớp sau" Khách hàng và người bán hàng.
Một đất nước vốn dĩ nghèo nàn về tài nguyên, có nhiều thiên tai, kinh tế chủ yếu là nông - ngư nghiệp và sự ảnh hưởng của Tam Giáo Đồng nguyên du nhập nên người Nhật Bản coi trọng: - Tinh thần tập thể - Hài hòa Thiên Nhân Địa - Đề cao sự hợp lí - Sự ứng xử theo thứ tự coi trọng Lễ, Tín, Nghĩa, Trí, Nhân. Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những gì du nhập vào để chúng biến thành Kiểu Nhật Bản. Bởi vậy Văn hóa Doanh nhân  Nhật Bản có sự giao thoa đỉnh cao các yếu tố Tây / Đông/ Nhật Bản. Tuy nhiên đến một lúc nào đó sự phát triển làm cho chiếc áo đó bộc lộ nhiều bất cập và mâu thuẫn. Tất cả cái đó cũng  phản ánh trong tính cách phức tạp của người Nhật Bản.
Ngôn ngữ có nhiều mặt hạn chế ( như rất ít các nguyên âm, Phụ âm luôn đặt trước nguyên âm, một tỉ trọng lớn từ ngữ gốc ngoại nhập được thể hiện dưới dạng chữ Kanji và chữ Katakana ) góp phần khiến người Nhật Bản rất cẩn trọng khi phát biểu, thể hiện chính kiến, và thường thông qua thái độ ngầm định, những yếu tố phi ngôn ngữ, sự nỗ lực thể hiện của bản thân để điền vào chỗ trống của ngôn từ. Bởi vậy để hiểu họ thường phải kết hợp nghe họ nói, quan sát những gì họ thể hiện và thấu hiểu tính cách của họ.
Sự thua trận của Nhật Bản trong Đại chiến thế giới lần thứ II khiến Nhật Bản chỉ còn lại đống tro tàn và nhục nhã, bên cạnh đó là bị ràng buộc bởi rất nhiều cam kết bất lợi. Điều này khiến cả nước Nhật gắn kết lại, làm hết sức mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Trong thời kì này dấy lên trong xã hội Nhật Bản sự tôn vinh lao động xả thân vì doanh nhân và vì xã hội. Người Nhật Bản coi trọng lao động hơn tất cả, gắn bó với doanh nhân  hơn với gia đình của mình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức. Cạnh tranh và hiệp tác được thúc đẩy song hành. Hàng chục năm qua đi, những phẩm chất đó đ trở thành những nét mới, bền chắc và định hình thành Văn hóa Doanh nhân Nhật Bản. Không ai nghi ngờ gì Văn hóa Doanh nhân  đó đã giúp nhiều doanh nhân  Nhật Bản gặt hái được nhiều thành công, Nhật Bản trở thành cường quốc thứ II trong nền kinh tế thế giới.
2. Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản


Triết lí kinh doanh
Có thể nói rất hiếm các doanh nhân Nhật Bản không có triết lí kinh doanh. Điều đó được hiểu như sứ mệnh của doanh nhân trong sự nghiệp kinh doanh. Là hình ảnh của doanh nhân  trong ngành và trong xã hội. Nó có ý nghĩa như mục tiêu phát biểu, xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng cho doanh nhân  trong cả một thời kì phát triển rất dài. Thông qua triết lí kinh doanh doanh nhân  tôn vinh một hệ giá trị chủ đạo xác định nền tảng cho sự phát triển, gắn kết mọi người và làm cho khách hàng biết đến doanh nhân . Hơn nữa các doanh nhân  Nhật Bản sớm ý thức được tính xã hội hóa ngày càng tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh , nên triết lí kinh doanh  còn có ý nghĩa như một thương hiệu, cái bản sắc của doanh nhân . Ví dụ như Công ty Điện khí Matsushita: "Tinh thần xí nghiệp phục vụ đất nước" và  " kinh doanh  là đáp ứng như cầu của xã hội và người tiêu dùng". Doanh nghiệp Honđa: "Không mô phỏng, kiên trì sáng tạo, độc đáo: và - Dùng con mắt của thế giới mà nhìn vào vấn đề . Hay công ty Sony: "Sáng tạo là lí do tồn tại của chúng ta"...
Lựa chọn những giải pháp tối ưu
Những mối quan hệ: Doanh nhân  - Xã hội; Doanh nhân - Khách hàng; Doanh nhân  - Các Doanh nhân đối tác; Cấp trên - cấp dưới thường nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn về lợi ích, tiêu chí, đường lối. Để giải quyết các doanh nhân Nhật Bản thường tìm cách mở rộng đường tham khảo giữa các bên, tránh gây ra những xung đột đối đầu. Các bên đều có thể đưa ra các quyết định trên tinh thần giữ chữ Tình trên cơ sở hợp lí đa phương. Các qui định Pháp luật hay qui chế của DN được soạn thảo khá " lỏng lẻo"  rất dễ linh hoạt nhưng rất ít trường hợp lạm dụng bởi một bên.
Đối nhân xử thế khéo léo.
Trong quan hệ, người Nhật Bản chấp nhận người khác có thể mắc sai lầm, nhưng luôn cho đối tác hiểu rằng điều đó không được phép lặp lại và tinh thần sửa chữa luôn thể hiện ở kết quả cuối cùng. Mọi người đều có ý thức rất rõ rằng không được xúc phạm người khác, cũng không cần buộc ai phải đưa ra những cam kết cụ thể. Nhưng những chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức doanh nhân ( trách nhiệm đặt trên tình cảm ) đã tạo một sức ép vô hình lên tất cả khiến mọi người phải xác định được bổn phận của mình nếu muốn có chỗ đứng trong tổ chức. Điều này rõ ràng đến mức khi tiếp xúc với các nhân viên người Nhật nhiều người nước ngoài cảm thấy họ tận tụy và kín kẽ, nếu có trục trặc gì thì lỗi rất ít khi thuộc về người Nhật Bản. Người Nhật Bản có qui tắc bất thành văn trong khiển trách và phê bình như sau: - Người khiển trách là người có uy tín, được mọi người kính trọng và chính danh  " Không phê bình khiển trách tùy tiện, vụn vặt, chỉ áp dụng khi sai sót có tính hệ thống, gây lây lan, có hậu quả rõ ràng " Phê bình khiển trách trong bầu không khí hòa hợp, không đối đầu, Win - Win.
Phát huy tính tích cực của nhân viên
Người Nhật Bản quan niệm rằng: trong bất cứ ai cũng đồng thời tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, tài năng dù ít nhưng đều ở đâu đó trong mỗi cái đầu, khả năng dù nhỏ nhưng đều nằm trong mỗi bàn tay, cái Tâm có thể còn hạn hẹp nhưng đều ẩn trong mỗi trái tim. Nhiều khi còn ở dạng tiềm ẩn, hoặc do những cản trở khách quan hay chủ quan. Vấn đề là gọi thành tên, định vị nó bằng các chuẩn mực của tổ chức, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, thúc đẩy bằng đào tạo, sẵn sàng cho mọi người tham gia vào việc ra quyết định theo nhóm hoặc từ dưới lên. Các DN Nhật Bản đều coi con người là tài nguyên quí giá nhất, nguồn động lực quan trọng nhất làm nên giá trị gia tăng và phát triển bền vững của DN. Người Nhật Bản quen với điều: sáng kiến thuộc về mọi người, tích cực đề xuất sáng kiến quan trọng không kém gì tính hiệu quả của nó, bởi vì đó là điều cốt yếu khiến mọi người luôn suy nghĩ cải tiến công việc của mình và của người khác. Một DN sẽ thất bại khi mọi người không có động lực và không tìm thấy chỗ nào họ có thể đóng góp.
Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo
Tinh thần kinh doanh hiện đại là lấy thị trường làm trung tâm, xuất phát từ khách hàng và hướng tói khách hàng. Điều này đã thể hiện rất sớm trong phong cách và đường lối KD Nhật Bản. Các DN lớn của Nhật Bản chỉ chiếm không đến 2% trong tổng số các DN mà đại bộ phận là các DN vừa và nhỏ. Nhưng sự liên kết giữa chúng thì rất đa dạng và hiệu quả. Đó là sự liên kết hàng ngang giữa các công ty mẹ ( loại lớn ) nhằm phát huy lợi thế tuyệt đối của các công ty thành viên, tăng khả năng cạnh tranh vào các thị trường lớn, với các đối thủ lớn của quốc tế. Nhưng dưới mỗi công ty mẹ là vô số các công ty con ( loại vừa và nhỏ ) liên kết theo chiều dọc nhằm phát huy các lợi thế tương đối của các công ty thành viên, khai thác lợi thê tiềm năng của thị trường tại chỗ, tăng lợi thế tuyệt đối cho công ty mẹ, và uyển chuyển thích nghi khi có biến động kinh tế. Sự liên kết đó thấy rất rõ qua hình thức cổ phần chéo, gắn kết về tài chính, nghiên cứu phát triển, hệ thống kênh phân phối, cung ứng đầu vào, hỗ trợ nhân sự...  Các doanh nhân  Nhật Bản luôn đề cao chất lượng thỏa mãn nhu cầu khách hàng, các cam kết kinh doanh , đi trước thị trường và kết hợp hài hòa các lợi ích. Cải tiến liên tục, ở từng người, từng bộ phận trong các doanh nhân Nhật Bản để tăng tính cạnh tranh của doanh nhân và thỏa mÂn khách hàng tốt hơn là điều rất nhiều người nước ngoài đã từng biết
Công ty như một cộng đồng
Điều này thể hiện trên những phương diện: - Mọi thành viên gắn kết với nhau trên tinh thần chia xẻ trách nhiệm hơn là bởi hệ thống quyền lực " Tổ chức như một con thuyền vận mệnh, một mái nhà chung " Anh làm được gì cho tổ chức quan trọng hơn anh là ai - Sự nghiệp và lộ trình công danh của mỗi nhân viên gắn với các chặng đường thành công của doanh nhân - Mọi người sống vì doanh nhân, nghĩ về doanh nhân, vui buồn với thăng trầm của doanh nhân  Triết lí kinh doanh  được hình thành luôn trên cơ sở đề cao ý nghĩa cộng đồng và phù hợp với các chuẩn mực xã hội, hướng tói những giá trị mà xã hội tôn vinh. Đã có thời người ta hỏi nhau làm ở đâu hơn là hỏi gia đình như thế nào. Sự dìu dắt của lớp trước đối với lớp sau, sự gương mẫu của những người lÂnh đạo làm cho tinh thần cộng đồng ấy càng bền chặt. Trong nhiều chục năm chế độ tuyển dụng chung thân suốt đời và thăng tiến nội bộ đã làm sâu sắc thêm điều này.
Công tác đào tạo và sử dụng người
Thực tế và hoàn cảnh của Nhật Bản khiến nguồn lực con người trở thành yếu tố quyết định đến sự phát triển của các doanh nhân. Điều đó được xem là đương nhiên trong Văn hóa Doanh nhân Nhật Bản. Các doanh nhân  khi hoạch định chiến lược kinh doanh  luôn coi đào tạo nhân lực và sử dụng tốt con người là khâu trung tâm. Các doanh nhân quan tâm đến điều này rất sớm và thường xuyên. Các doanh nhân  thường có hiệp hội và có quĩ học bổng dành cho sinh viên những ngành nghề mà họ quan tâm. Họ không đẩy nhân viên vào tình trạng bị thách đố do không theo kịp sự cải cách quản lí hay tiến bộ của khoa học công nghệ mà chủ động có kế hoạch ngay từ đầu tuyển dụng và thường kì nâng cấp trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên. Các hình thức đào tạo rất đa dạng, nhưng chú trọng các hình thức đào tạo nội bộ mang tính thực tiễn cao. Việc sử dụng người luân chuyển và đề bạt từ dưới lên cũng là một hình thức giúp cho nhân viên hiểu rõ yêu cầu và đặc thù của từng vị trí để họ xác định cách hiệp tác tốt với nhau, hiểu được qui trình chung và trách nhiệm về kết qua cuối cùng, cũng như thuận lợi trong điều hành sau khi được đề bạt. Cách thức ấy cũng làm cho các tầng lớp, thế hệ hiểu nhau, giúp đỡ nhau và cho mọi người cơ hội gắn mình vào một lộ trình công danh rõ ràng trong doanh nghiệp.
Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản đã kết tụ rất rõ nét trong Phong cách quản lí kiểu Nhật, là một trong những nguyên nhân chính làm nên sự thành công trong KD của các DN Nhật Bản.
3. Một điển hình về văn hoá kinh doanh : Ông Konosuke Matsushita
Konosuke Matsushita (1894 - 1989) là một nhà doanh nghiệp lớn và nổi tiếng của nước Nhật. Ông là người sáng lập ra tập đoàn Matsushita Electric, tập đoàn kinh doanh hùng mạnh nhất nhì Nhật bản. Ngày nay, khắp thế giới, ai cũng biết đến mặt hàng điện tử gia dụng mang nhãn hiệu National, Panasonic... do tập đoàn Matsushita Electric sản xuất. Matsushita Electric là một tập đoàn đa quốc gia cỡ lớn với khoảng 240.000 nhân viên, hơn 100 chi nhánh và nhà máy hải ngoại, tổng doanh thu hàng năm lên tới trên 56 tỷ USD. Doanh số của tập đoàn tương đương 85% GDP của Singapore hoặc Philippine (1992), gấp 4 lần tổng sản phẩm trong nước của Việt nam năm 1992.
Konosuke Matsushita là ai ?
Đó là cậu bé 9 tuổi của một gia đình nề nếp kiểu Nhật bị khánh kiệt vào những năm đầu của thế kỷ 20, phải rời ghế nhà trường ở độ tuổi thiếu nhi để bước vào học nghề sửa xe đạp ở thành phố Osaka. Mồ côi cha, mẹ từ năm 15, 18 tuổi, tự lực mưu sinh với bệnh phổi hiểm nghèo ngay từ độ tuổi "hoa niên"của cuộc đời. Ông vốn chỉ có trong tay 100 Yên tiền trợ cấp thôi việc, đã gây dựng nên một cơ đồ khổng lồ của hãng Matsushita Electric.
Cuộc đời của Matsushita chính là bản đúc kết kinh nghiệm thành công và cả triển vọng bão tố đối với một dân tộc đã biết bằng sức mạnh của ý chí, tinh thần và tài nghề, tiến lên chinh phục hết mục tiêu này đến mục tiêu khác trong một thế giới cực kỳ phức tạp mà quy luật thị trường còn ghê gớm hơn cả chiến trường.
Ông đã nêu ra một số bài học:
Một là, trong nghệ thuật giải quyết vấn đề, phải thẳng thắn đối mặt với nó, không được để vấn đề vượt khỏi tầm tay.
Hai là, "Vượt qua gian lao càng to lớn, con người càng vĩ đại", " Lớn sóng phải to thuyền", những câu châm ngôn kiểu ấy của Goethe, Tolstoi cho thấy phẩm chất cần có của con người trong thử thách.
Ba là, nên nghĩ những gian lao như liều thuốc quý giúp cho sự phát triển của bạn. Cơn khủng hoảng chính là cơ hội bằng vàng trắc nghiệm khả năng và độ vững bền thự sự của bạn. Từ mỗi thất bại nên rút ra những bài học cho tương lai và dốc sức biến mỗi vận rủi thành vận may...
Các Quan điểm và phương pháp quản lí của Matsutani có sức ảnh hưởng rất lớn trong xã hội Nhật Bản. Triết lí kinh doanh của Matsushita là:
Cần phải "sản xuất" (đào tạo) con người trước khi SX ra SP. Con người có qui củ và chất lượng mới mong có SP chất lượng
Ông Matsushita đã nghĩ ra nhiều biện pháp đào trong quản lí nhân sự như: - Luân chuyển nội bộ  "Cải thiện điều kiện và môi trường làm việc " Khen thưởng theo tinh thần và giá trị sáng kiến của nhân viên " DN là nơi qui tụ và đào tạo con người - Cần có biện pháp quản lí xí nghiệp sao cho mọi nhân viên cảm thấy họ đang sống và làm việc trong một công ty có hoàn cảnh dễ chịu. Phải đạt được điều "Trăm tướng một lòng, ba quân hợp sức"
Mọi người trong công ty đều phải tự hỏi và trả lời được những câu hỏi: - Vì sao có công ty này? - mục đích kinh doanh của Công ty là gì? - Tinh thần kinh doanh  và những quan điểm chủ đạo là gì?
Kinh doanh  thực sự là cuộc chiến, trong đó sự tồn tại thuộc về khả năng tìm kiếm nơi có nhu cầu tiêu thụ.
Những tinh thần chủ đạo của công ty Matsushita mà về sau trở thành những nét chính của Văn hóa Doanh nhân trên đất nước Phù Tang là:

- Doanh nhân  phục vụ đất nước
- Quang minh chính đại
- Hòa thuận nhất trí
- Lễ độ khiêm nhường
- Phấn đấu vươn lên
- Đền đáp công ơn
Các qui tắc kinh doanh của Matsushita:Văn hóa kinh doanh Nhật Bản

- Lợi nhuận thu được từ việc phục vụ xã hội đó là niềm tự hào
- Cần nuôi dưỡng niềm tin: Nhờ có công ty của mình thì nền kinh tế xã hội mới vận hành bình thường được
- Phải biết ơn và kính trọng khách hàng: họ là người thân, là người thày của doanh nhân. Phải luôn thấu hiểu cái lí của họ. Phải đáp ứng kì vọng của họ. Họ là trung tâm trong các hoạt động của doanh nhân
- Không vì lấy lòng khách hàng mà hạ thấp nhân viên
- Vấn đề không phải là vốn mà là sự tín nhiệm
- Lợi nhuận thu được từ việc phục vụ xã hội đó là niềm tự hào
- Cần nuôi dưỡng niềm tin: Nhờ có công ty của mình thì nền kinh tế xã hội mới vận hành bình thường được
- Phấn đấu làm sản phẩm chất lượng, nhưng phổ biến sản phẩm  đến mọi đối tượng mới quan trọng nhất
(Nguyễn Tất Thịnh - chuyên gia tư vấn DN - Giảng viên HVHCQG)
 
IV. Văn hóa kinh doanh Trung Quốc
 

 
Nếu bạn muốn làm ăn với các đối tác người Hoa, bạn phải thực sự tôn trọng những phép tắc kinh doanh của họ. Người Trung Quốc (TQ) rất coi trọng sự đúng hẹn. Họ sẽ không bao giờ đợi nếu bạn không đúng giờ.
Kể từ năm 1978, khi Trung Quốc mở cửa cho đầu tư và thương mại tự do, đất nước này đã có những thay đổi chóng mặt về cả kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại rất nhiều những đặc thù truyền thống trong văn hoá kinh doanh của TQ, một đất nước với những nghi thức và phép tắc cố hữu được xây dựng trên nền tảng về văn hoá và lịch sử lâu đời. Hiểu biết về giá trị văn hoá và đạo đức trong kinh doanh là một điều quan trọng khi “bắt tay” với các doanh nhân người Hoa.
Đối với người TQ, “Guanxi” theo nghĩa là quan hệ hay mối liên kết có một tầm quan trọng đặc biệt. Thiết lập được một mạng lưới các mối quan hệ giữa các cá nhân và tổ chức là một hoạt động chủ chốt trong chiến lược kinh doanh. Từ nhiều thế kỷ trước, đó là cách duy nhất để mọi thứ xuôi chéo mát mái. Ngày nay, yêu cầu xây dựng mối quan hệ tương trợ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau vẫn mang ý nghĩa sống còn để thành công.
Bên cạnh đó, “Mian-zi” với nghĩa là “thể diện”, sự hãnh diện cá nhân là điều luôn được giữ gìn, gắn liền với địa vị xã hội và danh tiếng của mỗi cá nhân. Trong văn hoá kinh doanh của người Hoa, “giữ thể diện”, “mất thể diện” hay “đem lại thể diện” có một sự tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh. Việc bạn khiến cho ai đó mất thể diện trong tổ chức có thể gây ra sự bất đồng nghiêm trọng. Ngược lại, việc khen ai đó trước mặt các đồng nghiệp khác là một hình thức "đem lại thể diện” và có thể tạo ra sự tôn trọng, sự trung thành của cấp dưới.
“Keqi” dựa trên sự kết hợp của hai âm tiết “ke” có nghĩa là khách mời và “qi” là ứng xử cũng là một từ được đặt lên hàng đầu khi thiết lập các mối quan hệ kinh doanh. Thể hiện sự khiêm tốn, nhún nhường thì quan trọng trọng hơn việc bộc lộ khả năng ngay lúc đầu, việc thể hiện bản thân quá sớm với các đối tác TQ dễ bị gây nghi ngờ.
Theo Times, nếu bạn muốn làm ăn với các doanh nhân TQ, bạn phải thực sự tôn trọng những phép tắc kinh doanh của họ. Người TQ rất quan trọng sự đúng hẹn. Họ sẽ không bao giờ đợi nếu bạn không đúng giờ.
Hiếm người TQ nào đặt quan hệ làm ăn với người mà họ không biết rõ ràng. Do đó, hãy giới thiệu thật kỹ bản thân để tạo niềm tin khi bước đầu bắt tay vào kinh doanh. Thêm vào đó, bạn cũng cần nắm rõ thứ bậc trong tổ chức công ty. Người TQ nhìn nhận mỗi cá nhân là một thành phần trong hệ thống bậc thang của tổ chức. Bạn đừng vào phòng họp trước người có chức danh cao hơn bạn.
Quan hệ lâu dài cũng được xem là có giá trị hơn sự giao dịch, giải quyết công việc nhất thời. Vì thế, đừng vội vã “tấn công”, sự tin cậy là điều cần xây dựng trước và khiêm tốn cộng với kiên nhẫn chính là chìa khoá của thành công.
Bạn cũng đừng coi thường những điều tưởng chừng nhỏ nhặt như trao đổi danh thiếp. Danh thiếp nên được in một mặt bằng tiếng Anh và một mặt bằng tiếng Trung. Khi đưa danh thiếp nên đưa bằng cả hai tay và lật mặt tiếng Trung lên trên. Khi bạn nhận danh thiếp, đừng nhét luôn vào túi mà hãy đọc cẩn thận và đặt thiếp lên trên bàn để thể hiện sự tôn trọng. Nếu viết thông tin về đối tác, bạn cần viết tên gắn liền với chức danh hoặc gọi một cách trân trọng là “ông” hay “bà”.
Đối với người TQ, né tránh giao tiếp bằng mắt cũng bị coi là không đáng tin cậy. Bạn cũng không nên từ chối trực tiếp, sẽ bị coi là ứng xử thiếu lịch sự. Thay vì trả lời “Không” một cách dứt khoát, bạn nên nhẹ nhàng và tế nhị hơn để giữ thể diện cho đối tác. “Có thể” hay “Tôi sẽ suy nghĩ về điều đó” là cách từ chối thường thấy của người Hoa.
Thu Lê
               (Theo Việt Báo)
 
V. Văn hóa kinh doanh Ai Cập
 

 
VIETRADE - Nằm bên bờ Địa Trung Hải, Ai Cập là một nước Hồi giáo với gần 90% dân số theo đạo này, phần lớn thuộc dòng Sunni và Hồi giáo được coi là quốc đạo. Ai Cập có nền văn hoá lâu đời với bề dày 5000 năm lịch sử. Ai Cập cổ đại là một trong những nền văn minh đầu tiên và trong nhiều thiên niên kỷ, Ai Cập vẫn duy trì được những nét văn hoá đa dạng và ổn định, ảnh hưởng cả văn hoá châu Âu, Trung Đông và nhiều nước châu Phi khác. Ai Cập cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá Thiên chúa giáo, Hồi giáo. Ngày nay văn hoá Ai Cập vẫn là sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại.
Để bước đầu kinh doanh thành công tại quốc gia này, trươc tiên, ta phải tìm hiểu rõ các nét văn hóa kinh doanh nơi đây. Sau đây là những nét văn hóa kinh doanh cơ bản tại quốc gia Hồi giáo này.
Giờ làm việc
Các công ty thương mại: từ chủ nhật đến thứ 5: từ 8:00 đến 16:00
Các cơ quan chính phủ: từ chủ nhật đến thứ 5: từ 8:00 đến 14:00
 Trang phục
               Ai Cập cũng có những người theo đạo Thiên chúa giáo, nhưng đại bộ phận người Ai Cập đều theo đại Hồi giáo cũng giống như các nước thuộc giới A-rập khác. Chính vì theo đạo Hồi giáo nên việc ăn mặc của người Ai Cập rất khắt khe, đặc biệt là với phụ nữ, mặc dù ngày nay các quy định với phụ nữ đã thông thoáng và cởi mở hơn. Bởi vậy, khi giao dịch với các đối tác Ai Cập bạn phải nhớ ăn mặc sao cho thật kín đáo, giản dị.
Cả nam giới và nữ giới đều phải thận trọng trong ăn mặc nhưng phù hợp hơn cả vẫn là bộ comple hay những bộ quần áo giao dịch lịch thiệp như áo sơ mi hay bộ vét nhẹ nhàng, cũng cần hết sức hạn chế mặc áo cộc tay. Phụ nữ cần mặc những trang phục hết sức kín đáo và đơn giản, không được mặc váy ngắn.
Cử chỉ giao tiếp, chào hỏi
Người Ai Cập có thói quen gặp gỡ trực tiếp, giáp mặt và đứng/ngồi gần nhau để trao đổi, nói chuyện. Khi chào hỏi, cần hết sức lưu ý trong việc gọi tên của người Ai Cập. Tên người Ai Cập được viết bằng tiếng A-rập, không sử dụng hệ chữ latinh như tiếng Anh nên thường khó nhớ một cách đầy đủ và chính xác. Cũng có khi cách phát âm cũng làm bạn hiểu sai ý nghĩa về tên của họ. Vì vậy, nên chắc chắn về tên riêng của người Ai Cập khi gọi tên họ. Phụ nữ và nam giới không bao giờ bắt tay.
Ngôn ngữ
Ai Cập là nước thuộc giới A-rập và ngôn ngữ của họ là tiếng A-rập. Lối nói của họ có phần chỉn chu, hoa mỹ, họ cũng ít khi muốn làm người nghe phật lòng vì lối nói của mình. Khi giao dịch, bạn cần hết sức tránh sử dụng tiếng lóng và những thành ngữ không phù hợp với văn hoá nơi đây.
Bạn nên ghi danh thiếp bằng tiếng A-rập bên cạnh tiếng Anh.
Gặp gỡ, đàm phán
Có thể nói rằng tác phong làm việc trong những cuộc gặp gỡ, đàm phán của người Ai Cập rất dễ làm cho bạn mất kiên nhẫn vì tác phong làm việc của họ rất chậm. Việc trễ hẹn hay không đến cuộc hẹn là thường xuyên diễn ra. Để đưa ra một quyết định, đối tác Ai Cập có thể cần nhiều thời gian hơn bình thường. Để đạt được mục tiêu của mình khi làm ăn với đối tác Ai Cập bạn thực sự phải là người rất kiên nhẫn và biết cách thông cảm với lề lối, thói quen làm việc của họ.
Cũng cần phải lưu ý rằng giờ làm việc ở Ai Cập thường có sự thay đổi và khác nhau giữa các công ty. Họ sẽ không đàm phán về công việc kinh doanh vào ngày thứ 6, đây là điều kiêng kỵ của người Hồi giáo. Các công ty sẽ nghỉ làm 2 ngày vào thứ 5 và thứ 6 hoặc thứ 6 và thứ 7. Mùa đông thường phải làm việc ít hơn mùa hè.
Trong ăn uống
Theo luật Hồi giáo, người theo đạo Hồi sẽ không được ăn thịt lợn và uống rượu (tuy nhiên họ vẫn được ăn cá và các loại thịt đã được giết mổ theo đúng quy trình của đạo Hồi)
 
Khác với một số nước, ở Ai Cập bạn không được ăn hết thức ăn ở trên đĩa mà phải để lại một ít, điều này cho thấy bạn đã ăn đủ, thể hiện sự lịch thiệp với chủ nhà.
Trong bữa ăn, việc cho thêm gia vị vào thức ăn là một điều cấm kỵ, nó đồng nghĩa với việc chê món ăn không ngon.
 
VI. Văn hóa
 
 
 
là một khái niệm mang nội hàm rộng liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo tâm lý học, văn hóa là quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người. Vậy, có thể hiểu văn hóa kinh doanh (VHKD) là lối ứng xử của cá nhân, tổ chức làm kinh tế (doanh nghiệp – DN) với tất cả những gì liên quan, phù hợp với xu thế thời đại.
Để hiểu rõ vai trò quan trọng của VHKD, trước hết phải xem xét vai trò và vị trí của DN trong thế kỷ thứ XXI. Từ đó, sẽ phân tích vai trò của VHKD và sứ mạng của doanh nhân trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Vai trò của DN trong thế kỷ XXI
Với mật độ bình quân 10 người dân (có nơi 5 người) có một DN, DN trở thành thể chế trung tâm vận dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất; là cầu nối giữa công tác nghiên cứu và vào sản xuất và đời sống. DN cũng là đơn vị bản lề huy động vốn, đầu tư, đổi mới công nghệ, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động. Về mặt xã hội, DN là nơi thực thi pháp luật của nhà nước và các quy định bổ sung của chính nó, đem lại cuộc sống cộng đồng và cơ hội phát triển cho người lao động.
Những nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan đều phồn vinh, ổn định, đạt vị trí cao trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đó là nhờ họ có những DN luôn đổi mới, đạt được năng suất cao, bảo đảm cho người lao động một cuộc sống đầy đủ. Ngày nay, người ta biết đến Phần Lan qua nhãn hiệu Nokia, biết đến Nhật Bản qua Honda và Toyota. Sự phồn vinh, năng động, tự đổi mới của các DN Mỹ trong môi trường cạnh tranh toàn cầu chính là nguồn gốc cho sức mạnh của nước Mỹ. Đây chính là thể chế tạo ra sức mạnh trí tuệ của thời đại kinh tế tri thức.
Không nghi ngờ gì nữa, DN là tế bào cơ bản của xã hội và trở thành thể chế quan trọng nhất trong thế kỷ XXI để vận dụng khoa học, công nghệ, cải thiện đời sống của người lao động. Xác định điều này để có thể đánh giá đúng vai trò của DN, có thái độ khoa học đối với DN. Thực tế cho thấy một tỉnh có nhiều DN, có môi trường đầu tư tốt luôn là tỉnh phát triển về kinh tế, xã hội hơn hẳn.
Xây dựng VHKD
Trong quan hệ giữa các DN, VHKD có thể bao gồm môi trường kinh doanh, những quy tắc ứng xử được các đối tác cùng chia sẻ, những truyền thống hay thói quen có tính đặc thù cho từng thị trường, từng nước hay từng nhóm đối tác. VHKD trong giao tiếp giữa các DN có thể hiểu là những quy tắc ứng xử bất thành văn, tuy là vô hình và không trở thành quy định luật pháp nhưng được các bên tham gia ngầm hiểu và cùng chấp nhận.
VHKD phải bao gồm sự tôn trọng luật pháp, như đăng ký thương hiệu, tôn trọng các quyền về tài sản trí tuệ (intellectual property rights) mà lâu nay vẫn được gọi một cách thiếu chính xác là sở hữu (ownership) trí tuệ, nộp thuế, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động… 
Trong quan hệ kinh doanh với các đối tác, VHKD phải bao gồm chữ tín với các đối tác và khách hàng. DN vay mượn của ngân hàng đến hạn phải trả, dẫu có khó khăn. Nếu không trả được đúng hạn, nhất thiết phải thông báo và thương lượng với chủ nợ để gia hạn. Giao hàng đúng hạn, chất lượng và độ ổn định của chất lượng sản phẩm, quảng cáo trung thực… chính là những biểu hiện cụ thể của VHKD.
Trong quan hệ với người lao động, VHKD không chỉ bao gồm việc trả lương theo cống hiến hay năng suất, trả bảo hiểm xã hội, thực hiện các quy định bảo hộ lao động, tạo điều kiện cho người lao động phát triển..., mà còn bao gồm cả việc xây dựng môi trường kinh doanh dựa trên nguyên tắc nhân ái, bình đẳng, tức là thực hiện chữ nhân theo nghĩa rộng của nó. Một môi trường kinh doanh nhân ái là môi trường kinh doanh khuyến khích sáng tạo và cổ vũ cho sự tiến bộ, phát triển của tất cả người lao động.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay, khách hàng luôn mong đợi có những sản phẩm mới và thường xuyên được cải tiến về chất lượng, kiểu dáng, bao bì. Một DN muốn phát triển phải có động lực mạnh, luôn khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo. Mặt khác, cần phải có trật tự, kỷ cương, chế độ trách nhiệm, chế tài nghiêm ngặt. Buông lỏng kỷ luật, dân chủ giả hiệu theo kiểu mị dân đều không bảo đảm VHKD.
Trong quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài, VHKD càng trở nên quan trọng cho thành công của DN. Trên đường hội nhập kinh tế quốc tế, VHKD được kết nối bằng nhiều “công cụ” khác nhau. Trước hết là trình độ ngoại ngữ của doanh nhân, cụ thể là ngoại ngữ kinh doanh (Business English), để có thể phân biệt chính xác sự tinh tế trong biểu đạt hay tính chính xác của điều khoản trong hợp đồng. Nếu doanh nhân Việt không tự sử dụng được ngoại ngữ mà phải phụ thuộc vào người phiên dịch có thể sẽ gặp không ít rủi ro. Trong trường hợp này, phải xác minh và đối chiếu nội dung dịch để tránh những nhầm lẫn tai hại.
Thứ hai là thái độ và tác phong giao tiếp với các đối tác. Ngoài sự lịch thiệp và tôn trọng đối tác, doanh nhân Việt cần học hỏi những kiến thức cơ bản về phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của họ. Chẳng hạn, người Nhật thích tặng (và nhận) quà và hay xin lỗi; người Mỹ thích nói thẳng và hay nói chuyện khôi hài; người Trung Quốc thích màu vàng, màu đỏ, thích chữ Song Hỷ hay chữ Phúc; người Ả Rập thích màu xanh da trời, rất tôn trọng kinh Koran; người Thái Lan rất tôn kính nhà vua và hoàng gia, mọi lời nói thiếu thận trọng về hoàng gia có thể gây trở ngại lớn trong giao tiếp; người Malaysia quan niệm chỉ ngón tay trỏ về phía đối tác là một sự xúc phạm, mọi biểu hiện bằng tay phải dùng ngón tay cái để tránh hiểu lầm...
Mặt khác, với mỗi nền văn hóa khác nhau, tôn giáo và tín ngưỡng cũng có tầm quan trọng khác nhau. Trong một nền văn hóa đa tôn giáo, cần hết sức tế nhị và nhạy bén để nắm bắt đâu là tôn giáo chính, đâu là tôn giáo phụ. Điều quan trọng nhất với doanh nhân Việt khi làm ăn với đối tác nước ngoài là không được mắc bất kỳ sai lầm nào dẫn đến hiểu lầm về tôn giáo.
Cùng với việc phải hiểu biết, tôn trọng và thích nghi (ở mức độ nhất định) với văn hóa của đối tác, doanh nhân Việt cũng phải tôn trọng và bảo vệ những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc trong giao tiếp kinh doanh. Nếu tự từ bỏ giá trị văn hóa của nước mình, theo đuổi đối tác vô điều kiện thì về lâu dài, doanh nhân Việt sẽ tự dẫn mình đến chỗ bế tắc. Vì khi ấy họ sẽ phải giao tiếp trong một môi trường không quen thuộc và ít hiểu biết hơn đối tác.
Xây dựng những chuẩn mực trong giao tiếp, xác định các điều kiện tối thiểu không thể nhân nhượng trong đàm phán và kinh doanh là điều sống còn đối với mỗi doanh nhân. Không nên đi từ bất cập sang thái quá. Khi tổ chức Đại hội Olympic, nhiều người ở các nước khác đã đả kích thói quen ăn thịt chó của người Hàn Quốc, song người Hàn Quốc đã không khuất phục sức ép đó. Cụ thể, họ không những không từ bỏ món thịt cầy mà còn tổ chức những quán ăn thịt cầy sạch sẽ, sang trọng và tích cực quảng bá. Đây là một ví dụ mà doanh nhân có thể tham khảo.
Tuy đã có một số thành công ban đầu, song doanh nhân Việt vẫn còn phải học hỏi nhiều để có thể cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Có doanh nhân mang áo dài Việt Nam sang bán ở Ai Cập nhưng quên không mang quần nên không bán được. Nhiều chuyến đi tìm hiểu thị trường nhưng thiếu sự chuẩn bị chu đáo cộng với thiếu hiểu biết về văn hóa của đối tác còn quá nghèo nàn, nên không thu được kết quả tương xứng.
Vai trò của Nhà nước trong xây dựng VHKD
Như trên đã nói, VHKD phải bao gồm sự tôn trọng luật pháp. Nỗ lực hình thành và xây dựng thành tố này của VHKD phải đến từ cả hai phía - tức người đứng đầu DN và các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như cơ quan nhà nước. Pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu, chính xác (không cho phép nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau) và phải được thực hiện thống nhất, không phân biệt đối xử, nhất quán trong cả nước đối với các loại hình DN khác nhau.
Cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật trên cơ sở tôn trọng DN và thực tế, không vì lợi ích của một bên để làm thiệt hại cho bên kia. Việc sửa đổi, thay đổi, bổ sung pháp luật là cần thiết, song phải được thảo luận công khai với các DN; việc công bố và thực hiện phải cho phép DN thời gian để chuẩn bị và thực hiện. Để DN kinh doanh có văn hóa, đòi hỏi các cơ quan nhà nước không chỉ hoạt động đúng chức trách, thi hành đầy đủ chức năng nhiệm vụ mà còn phải có văn hóa công sở, văn hóa trong ứng xử với công dân và DN.
Để giúp doanh nhân Việt xây dựng VHKD, nâng cao trình độ hiểu biết và kỹ năng đàm phán - giao tiếp trong kinh doanh, theo tôi, nên có sự kết nối với những viện nghiên cứu chuyên sâu về Đông phương học, Trung Quốc học, Nhật Bản học hay Viện nghiên cứu Hoa Kỳ… Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh việc đòi hỏi DN kinh doanh có hiệu quả, Nhà nước cũng phải tạo điều kiện cho họ bằng những thể chế - chính sách, điều luật cụ thể, nhất quán…
(Theo Doanh nhân Sài gòn)
 
VII. Xây dựng nền văn hóa kinh doanh
 

 
“Để hoàn thành tốt sứ mạng của mình, nhà doanh nghiệp cần phải đạt tới những tiêu chuẩn nhất định, và đến lượt mình các tiêu chuẩn đó lại có thể được xây dựng trên một nền văn hóa kinh doanh tiên tiến. Nhiệm vụ của chúng ta chính là xây dựng hệ tiêu chuẩn doanh nhân Việt Nam và nền văn hóa kinh doanh như thế”
Nguyễn Trần Bạt - Chủ tịch HĐQT Investconsul Group
Nhà thơ Chế Lan Viên có viết “Quá khứ không chỉ ở sau lưng, quá khứ còn ở trước mặt”. Một câu thơ không nổi tiếng lắm nhưng thật là thông thái: Chúng ta cần và phải nhìn lại tiến trình của lịch sử dân tộc nếu muốn tìm ra con đường phát triển đất nước cho tương lai. Lịch sử thật hào hùng, nhưng chúng ta không thể dừng lại mà phải từ lịch sử hào hùng đó đi lên, phải giành lấy một tương lai tươi sáng. Bác Hồ đã dạy rằng nếu đất nước độc lập mà nhân dân vẫn không đạt cơm no áo ấm dù độc lập cũng là vô nghĩa.
Vậy chúng ta còn thiếu những gì? Tại sao với rừng vàng biển bạc, có nhân dân cần cù, lại được lãnh đạo bởi một Đảng vững mạnh, giàu kinh nghiệm và ý chí, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu? Có quá nhiều lý do, cả chủ quan lẫn khách quan mà chúng tôi không định và cũng không thể đề cập hết tại đây. Nhưng có một lý do rất quan trọng, và ngày càng trở nên quan trọng hơn từ khi chúng ta tiến hành mở cửa, đổi mới và xây dựng một nền kinh tế thị trường - chúng tôi muốn nói đến một thực trạng là chúng ta chưa có một cộng đồng doanh nhân chuyên nghiệp cũng như một nền văn hóa kinh doanh.
Sự non kém của cộng đồng kinh doanh nhiều khi bị coi là hậu quả của những sai lầm trong chính sách kinh tế xã hội, nhưng theo chúng tôi không hoàn toàn đúng như vậy. Đúng là những sai lầm thời kinh tế tập trung bao cấp có nhiều ảnh hưởng tiêu cực nhưng còn có nhiều yếu tố mà chúng ta cần phải phân tích một cách khách quan và khoa học.
Thực ra, trong xã hội Việt Nam, doanh nhân chưa bao giờ được tôn trọng tương xứng với vai trò của họ đối với sự phát triển đất nước. Do ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, người ta xếp doanh nhân vào địa vị thấp kém. Lối xếp hạng Sĩ - Nông - Công - Thương từ lâu vẫn tồn tại trong ý thức và tâm lý cộng đồng người Việt. Vì thế cha mẹ thường chỉ thích cho con đi học, thi cử đỗ đạt làm quan chứ không muốn cho con trở thành doanh nhân. Vai trò và thực lực của tầng lớp doanh nhân trong lịch sử dân tộc hết sức mờ nhạt, chúng ta không có những doanh nhân xuất sắc để phát triển kỹ nghệ và thúc đẩy thương nghiệp. Người Việt Nam bằng lòng với những con thuyền nan quanh quẩn trên sông hồ mà quyên đi cái bao la của đại dương. Trong suốt tiến trình phát triển, so với các nước phát triển, thậm chí nhiều nước Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, dân tộc ta chưa bao giờ có được một tầng lớp doanh nhân theo đúng tên gọi của nó. 
Thời kỳ thuộc Pháp, một số nhà doanh nhân dân tộc xuất hiện nhưng vấp phải sự cạnh tranh dữ dội của tư bản chính quốc nên phần lớn không đứng vững và phát triển. Những sai lầm của chúng ta trong thời kỳ kinh tế tập trung vừa qua đã đẩy tầng lớp này đến tình trạng gần như bị triệt tiêu. Khi đó, nhà doanh nghiệp gần như đồng nghĩa với kẻ xấu - những kẻ ăn bám hoặc trục lợi bất chính.
Chính sách Đổi Mới đã đặt dấu chấm hết cho những quan điểm ấu trĩ mang nặng định kiến đó. Người ta không còn coi giàu có là một “tội lỗi”, không còn coi tầng lớp doanh nhân như những kẻ xấu xa nữa. Nhưng một trang mới đã mở ra chưa? Theo chúng tôi thì chưa. Giàu có không còn là tội lỗi nhưng doanh nhân – những người đóng vai trò quyết định trong việc tạo nên sự giàu có ấy, vẫn chưa được tôn vinh. Tình trạng này, theo chúng tôi cần xem xét từ hai phía: phía xã hội và phía các doanh nhân.
Từ phía xã hội, ở đây chúng tôi muốn nói đến xã hội theo nghĩa rộng nhất, chúng ta phải nhận rằng quá trình đổi mới tư duy đã không theo kịp những đòi hỏi của cuộc sống. Cho mãi đến gần đây, việc thành lập doanh nghiệp vẫn hết sức khó khăn. Doanh nhân không những gặp rất nhiều trở ngại trong quá trình hoạt động mà còn trở thành đối tượng bị phân biệt đối xử. Doanh nhân thậm chí vẫn bị coi là tầng lớp bóc lột, mặc dù với trí tuệ và kinh nghiệm quản lý của mình, họ đang đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, cũng có nghĩa là tạo nên thu nhập cho người lao động và góp phần ổn định xã hội và phát triển đất nước. Cuộc tranh luận khá lâu và vẫn chưa hoàn toàn ngã ngũ trong nội bộ Đảng CSVN về việc Đảng viên kinh doanh cũng thể hiện phần nào cách nhìn như vậy.
Từ phía các các doanh nhân, mặc dù đã có được bước phát triển vượt bậc vẫn chưa thoát khỏi tình trạng kinh doanh manh mún, không chuyên nghiệp, không có chiến lược dài hạn. Một số thậm chí kinh doanh theo lối chụp giật, phi pháp và không thực hiện đúng những nghĩa vụ của mình với Nhà nước và xã hội. Chính đó là một trong những lý do khiến cho hình ảnh của nhiều doanh nhân bị bóp méo. Ngoài ra cũng phải nói rằng, về mặt tâm lý, chính các nhà doanh nhân cũng nhiều khi không dám tin tưởng vào vai trò và sứ mạng của mình. Một số thiếu dũng cảm hoặc ý chí để quyết định đầu tư dài hạn.
Nhưng cuộc sống sẽ không cho phép chúng ta dừng lại. Đổi mới hay là chết - ai đó đã nêu lên khẩu hiệu này, khẩu hiệu mà chúng tôi cho rằng không phải là quá đáng. Trong một thế giới biến đổi mau lẹ như thế giới ngay nay, để tồn tại và phát triển chúng ta phải có khả năng thích ứng, tự hoàn thiện để có thể hợp tác, hội nhập và nắm bắt các cơ hội một cách kịp thời. Chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường mà trong nền kinh tế thị trường, nòng cốt chính là các doanh nhân. Chúng tôi cho rằng hiện nay vai trò của doanh nhân là quan trọng hơn bao giờ hết.
Để hoàn thành tốt sứ mạng của mình, nhà doanh nghiệp cần phải đạt tới những tiêu chuẩn nhất định, và đến lượt mình các tiêu chuẩn đó lại có thể được xây dựng trên một nền văn hóa kinh doanh tiên tiến. Nhiệm vụ của chúng ta chính là xây dựng hệ tiêu chuẩn doanh nhân Việt Nam và nền văn hóa kinh doanh như thế.

Thực ra vấn đề không hoàn toàn mới. Con người, nói như C.Mác là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Dù hoạt động trong lĩnh vực nào, người ta cũng cần phải có những quy tắc chung để chung sống và hơn nữa, để phát triển. Vai trò của các quy tắc chung đó là định hướng hoạt động của mỗi cá nhân phải phù hợp hay ít nhất là không đi ngược lại lợi ích chung.
Nền văn hóa doanh nhân được thể hiện và chỉ có thể được thể hiện qua các doanh nhân. Xây dựng hệ tiêu chuẩn doanh nhân là một công việc lớn, cần có sự đóng góp của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đưa ra một vài ý tưởng ban đầu.
1. Các phẩm chất cá nhân
a)       Chủ nghĩa yêu nước và ý thức công dân
Nói đến doanh nhân là nói đến khát vọng làm giàu, nhưng trước khi là doanh nhân thì doanh nhân phải là một công dân, hơn nữa, là một công dân yêu nước. Chúng ta thường nói nhiều lời văn hoa bóng bẩy về chủ nghĩa yêu nước nhưng cụ thể yêu nước là gì? Theo chúng tôi, trong thời đại ngày nay, khi đất nước đã độc lập và thống nhất, yêu nước chính là làm cho "dân giàu nước mạnh”, như khẩu hiệu mà Đại hội Đảng đã đề ra. Một doanh nhân yêu nước phát biết kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích của đất nước. 
Những kẻ vì lợi ích của cá nhân mà gây hại cho môi trường và cảnh quan đất nước,những kẻ thông qua đầu cơ, tham nhũng để nhanh chóng đạt lầy sự giàu có vật chất bằng mọi giá không thể là những doanh nhân yêu nước. Ngược lại, chúng ta phái tôn vinh nhưng người làm giàu chính đáng, bởi chính họ đem đến sự thịnh vượng cho đất nước.
b)      Các giá trị nhân bản
Doanh nhân là những người trực tiếp tổ chức, điều hành và quản lý quá trình vận hành của nền kinh tế, tức là quá trình sáng tạo và nâng cao các giá trị vật chất cho xã hội. Chính sứ mạng và vai trò đó khiến cho doanh nhân có một vị trí đặc biệt. Họ có nhiều điều kiện hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực, nguồn tài nguyên và tài sản vật chất của xã hội. Vì thế, hơn ai hết, họ phải là nhũng người ý thức sâu sắc về những giá trị nhân bản, điều sẽ tạo nên tính cân đối trong đời sống.
2. Quan hệ xã hội
a)       Các quan hệ trong nội bộ cộng đồng doanh nhân
Hoạt động kinh doanh đòi hỏi các doanh nhân có khả năng cạnh tranh, và đó chính là động lực để tăng hiệu quả của nền kinh tế. Nhưng quá trình cạnh tranh giữa các doanh nhân không thể là thứ cạnh tranh bằng mọi giá. Quá trình cạnh tranh phải dựa trên cơ sở các quy định pháp luật.

b)      Quan hệ với khách hàng
Trong một nền kinh tế lành mạnh, khách hàng phải được tôn trọng, không chỉ với nghĩa là những người trả tiền để mua hàng hoá và dịch vụ. Doanh nhân phải có trách nhiệm đối với hàng hóa và dịch vụ và bảo vệ khách hàng, cói đó không chỉ như nghĩa vụ hợp đồng mà còn là nghĩa vụ đạo đức.
c)       Quan hệ đối với các tổ chức xã hội và các tầng lớp xã hội khác
Bên cạnh các hoạt động kinh doanh thuần tuý, các doanh nhân với cách là những người có tiềm lực về vật chất trong xã hội, cần phải có trách nhiệm đóng góp vào các hoạt động chung. Doanh nhân phải đóng thuế một cách đầy đủ và minh bạch, đồng thời tuỳ theo khả năng mà tham gia cáchd từ thiện hoặc trở thành Mạnh Thường Quân của các hoạt động có lợi ích xã hội khác. Cần phải hiểu rằng đó cũng là cách đầu tư dài hạn, bởi lẽ một xã hội phát triển ổn định và phồn vinh, có trình độ tổ chức và văn hóa cao chính là điều kiện cần thiết để hoạt động kinh doanh thuận lợi.
3. Vai trò chính trị
a)       Tiếng nói trong đời sống chính trị
               Cùng với sự khẳng định của kinh tế thị trường, vai trò của doanh nhân cũng tăng lên. Tầng lớp doanh nhân không chỉ tăng lên về số lượng mà cả về ảnh hưởng và tỷ trọng đóng góp cho nền kinh tế đất nước. Trong tương lai, với tiềm lực kinh tế của mình, đó la một lực lượng chính trị hùng hậu, nhưng ngay từ bây giờ họ đã trở thành một lực lượng xã hội không thể bỏ qua. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc doanh nhân cần phải có tiếng nói của mình trong đời sống chính trị xã hội của đất nước.
b)      Người tham mưu về đường lối kinh tế
Vai trò chính trị của doanh nhân thể hiện tập trung nhất thông qua vai trò người tham mưu cho Nhà nước về đường lối, chiến lược và sách lược kinh tế. Với tư cách là những người trực tiếp hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, hiểu biết sâu sắc thị trường trong nước và thế giới, nắm được các xu thế phát triển trên thế giới đồng thời có quan hệ rộng rãi đối với các đối tác kinh tế và cả chính trị ở nước ngoài, các doanh nhân có thể đề xuất các giải pháp, đồng thời đóng vai trò cầu nối cho Nhà nước trong các quan hệ đối ngoại.
4. Tính tiên phong về tri thức
a)       Kỹ năng kinh doanh
Kinh doanh chuyên nghiệp cần có các kỹ năng và cả tinh thần sáng tạo. Tình trạng kinh doanh manh mún, chụp giật, thậm chí phi pháp của một số kẻ trong thời gian vừa qua, ngoài các lý do khách quan như hệ thống luật pháp lạc hậu, tình trạng quan liêu và tham nhũng tràn lan… còn có lý do chủ quan là kiến thức kinh doanh của doanh nhân quá thấp. Một số lượng đông đảo các doanh nhân hoạt động một cách tự phát, hoàn toàn thiếu hiểu biết những kỹ năng thông thường, đó là chua kế đến những kiến thức liên quan về pháp luật, môi trường và văn hóa...
 b)      Tính sáng tạo
               Tuy nhiên, kỹ năng và kiến thức cũng mới chỉ là những gì có thể học được trong các cơ sở đào tạo. Để trở thành một doanh nhân giỏi còn phải có tinh thần sáng tạo. Ở đây, theo chúng tôi, lao động của nhà doanh nhân khá gần gũi với lao động của người nghệ sĩ: doanh nhân cũng phải lựa chọn trong số vô vàn cơ hội một cơ hội khả thi, trong vô vàn giải pháp, một giải pháp tốt nhất. Chúng tôi cho rằng đối với một nhà kinh doanh chân chính, kết quả kinh doanh không đơn thuần là một khoản lợi nhuận mà còn là, có lẽ chủ yếu là, sự vật chất hóa những giá trị trí tuệ và tinh thần mà doanh nhân đã sử dụng trong quá trình hoạt động. Hiệu quả kinh doanh chính là thước đo tính đúng đắn của các giải pháp, cũng chính là thước đo của tài năng doanh nhân.
c)       Tính năng động
Một khi đứng vào hàng ngũ doanh nhân, người ta đã tự nguyện chấp nhận một cuộc đua tranh quyết liệt. Không phải vô cớ mà có câu “Thương trường như chiến trường”. Trong cuộc cạnh tranh đó, ai nắm bắt nhanh nhạy các cơ hội và huy động được nhiều tiềm năng và có chiến lược, sách lược đúng đắn sẽ chiến thắng. Tính năng động sẽ khiến ta nhanh nhạy, giúp chúng ta huy động các tiềm năng. Và nền kinh tế của đất nước sẽ chiến thắng nếu nhiều doanh nhân của chúng ta chiến thắng. 
5. Khả năng hợp tác và cạnh tranh quốc tế
Khả năng hợp tác và tính năng động là những phẩm chất không thể thiếu của nhà kinh doanh hiện đại. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà không một cá nhân hay quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa. Trong xu hướng đó, dưới tác động của những dòng luân chuyển không ngừng và vô cùng mạnh mẽ của các nguồn vật chất cũng như nhân lực, để phát triển, chúng ta phải có khả năng cạnh tranh. Và chính trong quá trình cạnh tranh đó nhu cầu hợp tác lại trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Điều này thoạt nhìn có vẻ mâu thuẫn nhưng lại là hai mặt của một quá trình biện chứng. Hợp tác tốt có nghĩa là có nhiều lợi thế và do đó nhiều cơ hội chiến thắng trong cạnh tranh.
Chúng ta còn có thể đưa ra nhiều tiêu chuẩn khác nữa, nhưng dù tiêu chuẩn nào thì cũng được xây dựng trên cơ sở của hệ thống các giá trị được chấp nhận rộng rãi. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là hoạt động kinh doanh liên quan, thậm chí động chạm đến lợi ích, cả vật chất lẫn tinh thần của nhiều người, nhiều tầng lớp trong xã hội nên cần phải được điều chỉnh trên những cơ sở mang tính văn hóa. Những tiêu chuẩn văn hóa kinh doanh một mặt phải buộc các doanh nhân tuân theo những tiêu chuẩn nhân bản phổ quát, mặt khác phải tạo cho doanh nhân một không gian tự do để hoạt động có hiệu quả. Nó phải được xây dựng trên cơ sở những tiêu chuẩn văn hóa kinh doanh quốc tế và phải nhận được sự đồng tình rộng rãi của cộng đồng doanh nhân cũng như toàn xã hội. Trong thời đại toàn cầu hóa sôi động hiện nay, một nền văn hóa kinh doanh như vậy sẽ góp phần để nền kinh tế Việt Nam cùng cả nước hội nhập vào đời sống kinh tế chính trị toàn cầu.

Một nền văn hóa kinh doanh tiên tiến là điều kiện tiên quyết để chúng ta xây dựng thành công cộng đồng những doanh nhân chuyên nghiệp, hạt nhân của nền kinh tế thị trường. Chỉ với một nền văn hóa kinh doanh tiên tiến, các doanh nhân mới có thể phát huy được vai trò của mình, trở thành đồng minh kinh tế, chính trị của Đảng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
 Biến văn hóa thành sức mạnh kinh doanh

   
Kết cấu tối ưu - Công trình bền vững 
Optimized structure - Stable building